Tiểu đường tuyp 2: các xét nghiệm chuẩn đoán

1 người đã xem

Tiểu đường tuyp 2 chiếm từ 90-95% các trường hợp tiểu đường được chẩn đoán, nó xảy ra ở mọi lứa tuổi đặc biệt ở lứa tuổi trung niên (trên 45 tuổi). Bệnh có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng về tim, thận, thần kinh, mắt..nếu không được phát hiện kịp thời.

Tiểu đường tuyp 2 ó các triệu chứng như : tăng hoặc thường xuyên đi tiểu, uống nhiều nước hơn bình thường, mệt mỏi, tầm nhìn mờ, có những vết cắt hay vết loét không lành..  được chuẩn đoán mắc bệnh đái tháo đường typ 2. Tuy nhiên các triệu chứng thường phát triển dần dần, bạn có thể có hoặc không có các triệu chứng trên, bác sĩ sẽ xét nghiệm máu để chẩn đoán chính xác cho bạn.

Các xét nghiệm thường được sử dụng là :

  • Kiểm tra glycated hemoglobin (HbA1C)
  • Xét nghiệm đường huyết ngẫu nhiên
  • Xét nghiệm đường huyết lúc đói
  • Nghiệm pháp tăng đường máu bằng đường uống
Giá trị xét nghiệm chẩn đoán bệnh đái tháo đường

Giá trị xét nghiệm chẩn đoán bệnh đái tháo đường

Xét nghiệm  Glycated Hemoglobin  (HbA1C)

Xét nghiệm HbA1c cho thấy mức độ tiểu đường của bạn  đã được kiểm soát như thế nào  trong vòng 2-3 tháng gần đây. Mặc dù bạn có thể có một số giá trị đường huyết rất cao hoặc rất thấp, HbA1c sẽ cho thấy lượng glucose trung bình trong máu của bạn trong khoảng thời gian đó. Kết quả có thể giúp bạn và bác sĩ biết được rằng các biện pháp đang được dùng để kiểm soát lượng đường huyết của bạn có tác dụng tốt hay không.

Trước đây, xét nghiệm trên chỉ được sử dụng để theo dõi và kiểm soát glucose máu ở những bệnh nhân đã bị bệnh tiểu đường, nhưng gần đây Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã khuyến cáo rằng HbA1c cũng có thể được sử dụng để chẩn đoán bệnh đái tháo đường týp 2

và như là một xét nghiệm sàng lọc cho những người có nguy cơ cao bị bệnh tiểu đường.

Mức HbA1c từ 6,5% (48mmol / mol) trở lên được cho là bệnh đái tháo đường týp 2, kết quả HbA1c là 6-6,4% (42-47 mmol / mol)  được xem là tiền đái tháo đường, chỉ ra nguy cơ phát triển của bệnh tiểu đường. Tuy nhiên, hiện nay mức HbA1c đã được điều chỉnh theo thực tế lâm sàng của từng đối tượng. Như vậy, sẽ có những người cần giữ HbA1c ở mức 6,5% (người bệnh trẻ, mới chẩn đoán đái tháo đường, chưa có biến chứng mạn tính, không có bệnh đi kèm); nhưng cũng có những đối tượng chỉ cần ở mức 7,5% (người bệnh lớn tuổi, bị bệnh đái tháo đường đã lâu, có biến chứng mạn tính, có nhiều bệnh đi kèm).

Xét nghiệm này có thể không chính xác như trong trường hợp phụ nữ đang mang thai hoặc có những bất thường của hemoglobin (biến thể hemoglobin), vì vậy bác sĩ có thể sử dụng những xét nghiệm khác để chẩn đoán bệnh.

Xét nghiệm đường máu ngẫu nhiên.

 Tiến hành xét nghiệm đường máu vào một thời gian ngẫu nhiên.Bất kể bạn ăn (hay uống) lần cuối cùng, mức đường trong máu 200 mg / dL (11,1 mmol / L) hoặc cao hơn cho thấy bệnh đái tháo đường, đặc biệt khi kết hợp với bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng của bệnh tiểu đường, ví dụ như đi tiểu thường xuyên và khát nước. Ưu điểm của xét nghiệm này là không cần quan tâm xem bệnh nhân đã ăn hay chưa, đã ăn được bao lâu, nếu cứ thấy đường máu ≥ 11,1 mmol/L thì kết luận đái tháo đường.

Xét nghiệm đường huyết lúc đói.

Xét nghiệm này rất phổ biến và hay  được dùng nhất hiện nay để chẩn đoán bệnh tiểu đường. Bình thường đường huyết lúc đói khoảng 4,4 -5,0 mmol/L. Trường hợp xét nghiệm thấy đường máu lúc đói (nhịn đói sau đêm) ≥ 126 mg/dl  (≥ 7,0 mmol/l) ở 2 lần xét nghiệm gần nhau thì được coi là tiểu đường.Chú ý là đường máu trong huyết tương cao hơn trong máu toàn phần khoảng 10-15%.

Như vậy:

  • Trường hợp đường huyết < 5,6 mmol/L (<100mg/dL) hoặc <4,4mmol/L (<79mg/dL) trong máu toàn phần thì kết luận không bị tiểu đường.
  • Trường hợp đường huyết trong khoảng  5,6 – 6,4 mmol/L (100-116 mg/dL) hoặc 4,4-5,5 mmol/L (79-99 mg/dL) trong máu toàn phần thì nguy cơ bị tiểu đường là ít và không cần làm thêm nghiệm pháp tăng đường huyết.
  • Trường hợp đường huyết trong khoảng 6,5 – 7,0 mmol/L (117-126 mg/dL) hoặc 5,6-6,6 mmol/L (100-119 mg/dL) trong máu toàn phần thì nguy cơ bị tiểu đường cao và cần làm nghiệm pháp tăng đường huyết.
  • Trường hợp đường huyết ≥ 7,0 mmol/L (≥126mg/dL) hoặc ≥6,7mmol/L (≥120mg/dL) trong máu toàn phần thì kết luận bị tiểu đường.

Nếu được chẩn đoán là bệnh tiểu đường, bác sĩ  sẽ chạy thử nghiệm máu để kiểm tra tự kháng thể phổ biến trong bệnh tiểu đường tuýp 1. Các xét nghiệm này giúp bác sĩ phân biệt giữa bệnh tiểu đường tuýp 1 và loại 2: sự hiện diện của xeton – sản phẩm phụ từ sự phân hủy của chất béo – trong nước tiểu cũng cho thấy bệnh tiểu đường tuýp 1, hơn là loại 2.

Nghiệm pháp tăng đường huyết bằng đường uống

Bạn sẽ phải nhịn đói sau đêm (để đảm bảo không ăn hoặc uống bất kì chất lỏng nào trong vòng 8 -12 tiếng). Bạn cũng tránh dùng thuốc trước khi làm xét nghiệm vì nó cũng sẽ ảnh hưởng đến kết quả. Mẫu máu sẽ được lấy trước khi làm xét nghiệm và lượng đường trong máu của bạn sẽ được đo. Sau đó bạn sẽ được cho uống nước  đường. Sau khi uống nước đường, lượng đường trong máu sẽ được đo lại sau hai giờ.

Mức đường huyết dưới 140 mg / dL (7,8 mmol / L) là bình thường. Nếu từ 140 đến 199 mg/ dL (7,8 mmol/L và 11,0 mmol/L)  được cho là tiền tiểu đường. Còn nếu 200 mg/dL (11,1 mmol / L) hoặc cao hơn sau hai giờ đồng hồ có thể cho rằng đái tháo đường.Xét nghiệm này rất có giá trị và được dùng để khẳng định ở những bệnh nhân có mức đường huyết > 6,4 mmol/L nhưng < 7,0 mmol/L.

Xét nghiệm dung nạp glucose bằng đường uống

Xét nghiệm dung nạp glucose bằng đường uống

Hiệp hội Tiểu đường Hoa Kỳ đề nghị kiểm tra cho bệnh tiểu đường týp 2 bắt đầu từ 45 tuổi, đặc biệt nếu bạn thừa cân. Nếu kết quả là bình thường, hãy lặp lại bài kiểm tra này ba năm một lần. Nếu kết quả là xấp xỉ (với ngưỡng tiền đái tháo đường), hãy hỏi bác sĩ khi nào sẽ trở lại để kiểm tra thêm.

Việc kiểm tra này cũng được đề nghị đối với những người dưới 45 tuổi và thừa cân nếu có các bệnh về tim mạch hoặc các yếu tố nguy cơ tiểu đường khác như:

– Có lối sống không ổn định (ít vận động, sử dụng nhiều đồ ăn nhanh,chất béo..)

– Trong gia đình có người mắc bệnh tiểu đường ở thế hệ gần kề như bố, mẹ, anh, chị em ruột, con ruột bị mắc bệnh đái tháo đường typ 2.

– Từng được chẩn đoán mắc hội chứng chuyển hóa, tiền đái tháo đường.

– Phụ nữ có tiền sử thai sản đặc biệt (đái tháo đường thai kỳ, sinh con to-nặng trên 4kg , xảy thai tự nhiên nhiều lần, thai chết lưu…)

– Rối loạn lipid máu : đặc biệt khi HDL-c < 0,9 mmol/l và Triglycrid > 2,2 mmol/l.

–  Huyết áp trên 140 mmHg (đối với huyết áp tối đa) và hoặc 85 mmHg (đối với huyết áp tối thiểu).

hotline muângy

Ý kiến của bạn

X